Thứ ba,2/19/2013,2:56 PM

SỰ KHÁC NHAU GIỮA CHỨNG THIỀN VÀ CHỨNG THÁNH.

Đây là đề tài nói về những điều rất sâu trong giáo lý của đạo Phật, rất sâu trong công phu thiền định, chỉ bởi vì cái nhân duyên chúng ta tôn vinh uy đức Phật hoàng Trần Nhân Tông đang an vị tại đây. Đồng thời, trong Pháp hội này, nếu ai nghe mà hiểu được sâu sắc những cốt lõi của bài giảng thì là một nhân duyên rất lớn, có ích cho sự tu hành của mình.

Từ rất lâu, hầu hết chúng ta nhầm lẫn giữa chứng Thiền và chứng Thánh cứ tưởng là một. Ta cứ tưởng ai tu đắc thiền định, có thể nhiếp được tâm, có thể nhập được định, có thể có thần thông là chứng Thánh. Thực sự ta đã lầm, hoàn toàn không phải vậy. Trong kinh Trung bộ, Phật nói “Người ta có thể chứng Tứ thiền mà vẫn chưa phải là Thánh”. Với câu này, Phật đã nói trong Kinh thì không thể sai, chỉ là có cái gì đó ta không hiểu, có cái gì đó mà cả một thời gian rất dài điều này không được giảng trạch - phân tích chi ly - thấu đáo và chính chúng tôi trong cuộc đời tu hành của mình cũng từng chứng kiến những điều bế tắc. Ví dụ ta gặp một người đắc thiền định, có thần thông nhưng không bao lâu sau họ phát điên.

Nếu mà đắc được thiền định là chứng Thánh thì không thể phát điên. vì với một vị chứng Thánh quả Tu Đà Hoàn (sơ quả) thì ba ác đạo đóng lại vĩnh viễn, không bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và không bao giờ bị tâm thần điên loạn. Vị đó nếu còn cái nghiệp của quá khứ,  có thể bị bệnh thần kinh não gì đó, chứ tuyệt nhiên không bao giờ bị tâm thần mất tư cách.  Nhưng ở đây ta thấy vị đó rõ ràng đắc thiền, có thần thông, thiền ngữ thông suốt mà phát điên. Rồi gặp vị khác cũng đắc thiền, nói thiền ngữ như mây như gió, thực là sâu sắc nhưng vẫn phát điên, điều này làm chúng tôi cứ phân vân mãi, không hiểu hiện tượng này là sao. Tuy nhiên, chúng tôi nhớ một đoạn trong kinh Trung bộ, Phật dạy “Trong cái Pháp này có Tứ Quả Thánh là Tu Đà Hoàn; Tư Đà Hàm; A Na Hàm và A La Hán. Trong Pháp này có 4 mức thiền: là Sơ thiền; Nhị thiền; Tam thiền; Tứ thiền. Và Phật tách ra làm hai rõ ràng.

Ngoại đạo có thể tu chứng đến Tứ thiền nhưng chưa phải là một vị Thánh và Phật nói điều rất lạ “Chỉ trong giáo pháp của Đức Phật mới có Tứ Quả Thánh, còn ngoài giáo pháp này có thể người ta chứng được thiền định cao siêu, nhưng vẫn không chứng một phần nào trong Tứ Quả Thánh này”. Tức là nếu ngoại đạo tu đắc lực, có thể chứng Thiền lên cõi trời và lên cõi trời rất cao; thậm chí vào cõi trời Vô Sắc Giới, tâm tan vào trong vũ trụ (Không có hình hài), an trú trong đó vài triệu năm, vậy chứ khi hết phước, động niệm trở lại, rớt xuống liền. Lạ lùng như vậy! nghĩa là thiền chứng của một người lệ thuộc vào phước của người đó. Hể phước cao thì chứng Thiền cao, phước thấp chứng Thiền thấp, phước dày thì an trú trong thiền định rất lâu, phước mỏng an trú trong thiền ít và tắt rớt trở lại liền. Mà nếu không tu Thiền thì ta không phải là đạo Phật.

Đức phật của chúng ta nhờ thiền mà đắc đạo, vậy cái lõi của đạo Phật là thiền định. Khi đến với đạo Phật ta đến bằng nhiều cửa, nhưng cửa gì thì cửa, cuối cùng ta cũng phải tu thiền định. Tuy nhiên, con đường thiền là con đường thiên nan vạn nan không nói tới thời gian. Người tu Thiền không bao giờ biết được chứng nào mình mới có thể chứng ngộ, chỉ tinh tấn tu và trong đầu cứ nghĩ  “Kết quả là của một ngàn kiếp sau, chứ không phải vài tháng hay vài năm”. Và với cái tâm thế đó, ta đủ sức đi qua một ngàn kiếp khi bắt đầu tu Thiền nhưng phải tu cho đúng. Vậy mà nhiều khi kết quả đến bất ngờ, ví dụ như  trong năm năm sau ta chứng một tầng bậc nào đó. Do đó, ai đến với đạo Phật đã lâu ngày dài tháng, tu tập tinh tấn, có chiều sâu rồi đều phải từ từ bước vào con đường thiền định, không còn con đường nào khác. Ví dụ ta dung nhiếp hết mọi pháp môn, vì mỗi pháp môn đều có một lợi ích gì đó cho mỗi chúng sinh, nhưng khi chúng sinh nào đã đủ căn cơ, đủ trí tuệ đều phài bước vào thiền.

Hôm nay chúng ta nói thẳng thắng điều này vì trước mặt mình là tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông - Người đã khai sáng một thiền phái cho Việt Nam - Người đã quy tập lại GHPG bắt đầu từ thời nhà Trần. Thế nhưng mãi một thời gian rất dài qua các triều đại, hình ảnh Người thật sự có bị lu mờ (ít được nhắc đến), nhất là những giai đoạn đất nước ta bị xâm lược. Ngày hôm nay khi đất nước ta đã hòa bình thống nhất độc lập, những giá trị của dân tộc ta được khôi phục thì uy danh của Người                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                  bắt đầu sống dậy. Vấn đề này biểu hiện cho hai điều: một là đất nước ta đã đến vào thời kỳ độc lập tự chủ phát triển. Điều thứ hai là ở trên cõi trời, Ngài đã vượt lên một cảnh giới rất cao, và ứng với cái phước đó ngày hôm nay uy danh của Ngài trở nên lừng lẫy trở lại. Vì thực sự sau Phật thì không ai ở cõi người chứng một lần là chứng tột cùng cả, có vị còn phải trở lại; có vị không trở lại, nhưng ở cõi trên các Ngài vẩn tu hành và nhiều khi chứng được những quả vị cao hơn, mà quả vị trên đó sẽ ứng dưới cõi người này. Ví dụ Ngài Từ Đạo Hạnh nói: Ta để lại nhục thân và ta còn phải trở lại cõi người, khi nào ta lên cõi trời mà lúc đó ta nhập niết bàn thì cái thân ta để lại đây tự nhiên tan hoại (tức là trên đó các Ngài vẫn phải tu và biết được quả vị của mình như vậy). Hôm nay, khi sự nghiên cứu về Phật hoàng Trần Nhân Tông bắt đầu khởi dậy phát triển, trở thành niềm tự hào thì ta cũng hiểu ở trên cao kia, đức Phật hoàng của chúng ta đã vượt lên một cảnh giới rất cao. 

Để phân biệt sự khác nhau giữa chứng Thiền và chứng Thánh, Thượng tọa phân tích cho thấy:

Người chứng Thiền rất sâu, thậm chí đắc được thần thông mà chưa chắc chứng quả Thánh và có lúc bị thoái đọa. Có khi họ thoái đọa trở lại cõi người bình thường và có những người thoái đọa trở thành điên loạn như trong kinh Lăng Nghiêm – phẩm Ngũ Ấm Ma có nói “Người tu thiền - chứng thiền có thần thông. Có thần thông rồi bị ma ám có thể làm điều bậy, phát điên và bị pháp luật xử lý”. Đây là những người chứng Thiền mà không chứng Thánh.

Còn chứng Thánh rồi thì không có chuyện bị đọa ba đường ác và bị điên loạn. Nhưng trong các quả Thánh từ Nhị quả Tư Đà Hàm cho tới A Na Hàm. A La Hán, cái Thánh tính của người đó hiện ra rất rõ, tức là gặp một vị chứng Tư Đà Hàm, A Na Hàm hay A La Hán là ta thấy bộc lộ ra liền tư cách siêu nhân (điềm đạm như hư vô). Tuy nhiên, có một vị Thánh khó hiểu nhất là vị Thánh Tu Đà Hoàn. Vị này nhìn vào ta không thấy đặc biệt nhưng quả chứng nằm ở trong rồi. Vì quả chứng Tu Đà Hoàn không đòi hỏi thiền định cao, chỉ là người đó nhiếp tâm trong thiền định đạt được chánh niệm tỉnh giác ban đầu (vọng tưởng chưa hết, vẫn khởi), tâm sáng lên trong chánh niệm tỉnh giác và bất ngờ do nhân duyên lành gì đó họ phá được ba kiết sử (thân kiến, nghi, giới cấm thủ), vị đó chứng Tu Đà Hoàn và ta nhìn vào không hề biết họ đã chứng Thánh.

 Nếu vị đó có tới lui trở lại cõi người này, có khi xuất gia, thậm chí có khi làm cư sĩ nhưng mang trong tim mình một ngọn đèn của Thánh quả cứ cháy loe loét và có khi người đời không biết đã xúc phạm. Thậm chí có khi trở lại cõi này, do nhân duyên gì đó không tu thiền nhiều nhưng lại là người quân tử, tâm từ thiện vị tha rất lớn. Và có những vị trở lại tu thiền rất tinh tấn để vượt lên. Cho nên cái khó nhận ra nhất là vị Thánh Tu Đà Hoàn vì cái chứng thiền không cao, chỉ mới chứng ban đầu của Chánh niệm tỉnh giác, tâm rỗng sáng một chút, vọng tưởng vẫn còn nhiều nhưng mà đạo đức, quan điểm thay đổi tận gốc rễ. Còn những vị Thánh từ Tư Đà Hàm là đã cuối chánh niệm tĩnh giác nên kiến giải, tư cách bắt đầu phi thường.

Riêng vị A Na Hàm bắt đầu nhập vào Sơ thiền cho tới Tam thiền. Cũng là A Na Hàm nhưng mà nếu A Na Hàm chứng ở Sơ thiền thì thần thông chưa nhiều, còn A Na Hàm mà chứng tới Tam thiền thì vị đó thần thông quảng đại, có thể đi mây về gió, phi hành, biến hóa, đi xuyên qua vách đá, bay lên được. Đặc biệt vị A La Hán thì bắt buộc mức thiền tương ưng phải là Tứ thiền. Nhưng ngược lại, có người tu chứng Chánh niệm tỉnh giác, rồi nhập vào Sơ thiền - Nhị thiền -  Tam thiền - Tứ thiền, có thần thông quảng đại lại chưa hề chứng được Sơ quả Tu Đà Hoàn, đây là điều rất lạ.

Người chứng Thánh bắt buộc phải có một mức thiền định tương ưng nhưng người chứng Thiền chưa chắc chứng được Thánh quả nào.

  • Những dấu hiệu của một người chứng Thiền:

Khi chúng ta bắt đầu dụng công tu tập thiền định thì không có kết quả gì hết, nhưng nếu người nào trong cái khó khăn (chân đau, tâm loạn )mà vẫn tinh tấn tu, không nản, không bỏ thời khóa là do kiếp trước họ có công đức gì đó rồi. Còn người kiếp trước không có công đức ngồi thiền đau chân mấy bửa là bỏ liền, ta biết người này đời xưa không có gieo duyên. Thời gian dụng công không kết quả này có khi kéo dài từ 5 – 10 năm. Qua suốt thời gian này cộng với một đời sống thánh thiện, bắt đầu xuất hiện kết quả đầu tiên là Chánh niệm tỉnh giác. Tâm bắt đầu rỗng sáng, không bị vọng tường chi phối nhưng vọng tưởng vẫn tồn tại. Giai đoạn nầy kéo dài có khi 30 kiếp, có khi 3 năm rồi nhập vào Sơ thiền (Không cố định thời gian), nhưng trong giai đoạn Chánh niệm tỉnh giác, tâm rỗng sáng này ta có cơ hội chứng hai quả Thánh là Tu Đà Hoàn và Tư Đà Hàm.

- Dấu hiện của người chứng Thiền là có phong cách tự tại, thong dong, thanh thản, ánh mắt trầm lắng, nói đạo lý gì thường nói ra đạo lý tự tại, buông bỏ, không chấp, nói cái gì cũng không, không vướng bận chuyện thế gian nhiều. Lại nữa, biểu hiện thứ hai của người chứng Thiền là có thần thông từ thấp đến cao. Thấp là biết được tâm người khác, đoán được tính chất người khác, đoán được cuộc đời vận số người khác, đoán được những việc sắp xãy ra với mình… đoán trước có khi nhiều; có khi ít. Thậm chí nhìn một người cảm nhận được kiếp trước của người đó. Và biểu hiện thứ ba của người chứng Thiền là kiến giải lanh lợi, tức nói Kinh điển, đối đáp Thiền ngữ cực kỳ chớp nhoáng, ẩn chứa đạo lý sâu sắc mà không được suy nghĩ, người không chứng Thiền không thể nói được như vậy. Tuy kiến giải lanh lợi nhưng chưa phải chứng Thánh.

Một đặc tính của người chứng Thiền nữa là vẫn có thể thoái thất. Cái thối thất của người chứng Thiền gồm có hai trường hợp: một là thối thất ngay trong kiếp này và trường hợp thứ hai là thối thất của nhiều kiếp sau. Người chứng thiền không bảo đảm, tức là vẫn tiến và lui được, tùy phước, nếu phước còn thì còn an trú trong Thiền định; ngược lại phước hết thì trở lại người tầm thường, mà thậm chí thua người tầm thường. Bởi vì lúc chứng Thiền cứ tưởng mình chứng Thánh. Vì vậy người nào khi chứng Thiền mà lầm tưởng mình chứng Thánh thì khi hết phước của Thiền sẽ lui lại và tệ hơn người bình thường. Chính cái lầm tự coi mình là Thánh thì phước mất sạch và âm luôn.

Còn nếu thoái thất ở kiếp sau là vị đó chứng Thiền xong chưa thoái thất, chết lên cõi trời, an trú ở những cõi rất cao. Mà ở trên cõi trời đó có khi ở 300 năm, có khi ở 3000 năm,  có khi 1 triệu năm … tùy mức Thiền sâu hay cạn. Đến khi hết phước thì rớt xuống trở lại. Mà cũng tùy, nếu tưởng mình chứng Thánh, khi rớt trở lại sẽ là con người dỡ dỡ ương ương, thua người tầm thường. Còn như không có ý nghĩ mình chứng cao thì rớt lại làm người bình thường.

Người chứng Thiền sâu còn một biểu hiện nữa là tịch tự tại, tức là muốn chết thì chết, biết trước giờ chết.

  • Những đặc tính của người chứng Thánh:

Đức Phật lập ra cái thang 10 kiết sử là mười tiêu chuẩn của đạo đức để đánh giá chứng được quả nào trong 4 quả Thánh. Phật cũng đưa ra tiêu chuẩn để xác định Tứ thiền, tức là Tâm nhiếp được chổ nào thì chứng thiền thứ mấy. Nhưng riêng đối với Tứ Thánh Quả, Đức Phật không nói về thiền mà nói về đạo đức. Để một người chứng được Tu Đà Hoàn thì phải phá ba kiết sử là thân kiến (ích kỷ), nghi (không đủ lập trường, lý tưởng, niềm tin để tu), giới cấm thủ (chấp nguyên tắc mà quên mất mục tiêu).

Nói về ba kiết sử này ta nói cả đời không hết nhưng một vị chứng Tu Đà Hoàn rồi, phá được ba kiết sử này, ta thấy họ có những biểu hiện sau: thứ nhất vì phá được thân kiến (ích kỷ) nên họ sống rất vị tha, không sống cho mình. Vị tha này chưa phải là vô ngã như một vị A La Hán tuyệt đối nhưng họ sống tâm rất thiện, rất quân tử, vì người vì đời không vì mình, và mỗi lần làm gì cho mình thì thấy hổ thẹn. Dấu hiệu thứ hai là phá được cái nghi, tức là lý tưởng tu hành sắc như đá không ai làm lung lay được, còn đối với Phật có một niềm tin tuyệt đối, nếu lúc đó cần vì phật chết liền không do dự một giây nào. Dấu hiệu thứ ba là phá được giới cấm thủ, lúc nào cũng nắm mục đích mà vượt qua nguyên tắc. Tôn trọng nguyên tắc nhưng khi cần thì vượt qua nguyên tắc phá bỏ liền.

Người chứng Tu Đà Hoàn sống trên đời họ sâu sắc, tinh tế trong cư xử với con người, ưu ái, quan tâm đến con người, kiểm soát kỷ trong từng hành vi của mình thì người này chứng Thánh. Còn người chứng Thiền thường hay nói những điều tự tại, bỏ qua bất cần, phớt lờ. Riêng người chứng Thánh cao thì họ có cả hai, tức là họ vừa có cái gì tự tại, siêu thoát, bất cần, thong dong nhưng vẫn luôn luôn tính tế sâu sắc, ân cần, ưu ái với con người.

Người chứng Tư Đà Hàm thì kinh Phật dạy người này mỏng nhạt tham sân. Câu này ta nghe thấy bình thường nhưng làm không nổi, vì cái tham vọng; tham muốn; tham có tài sản; thậm chí tham danh tiếng đều tìm ẩn trong lòng ta một khối rất lớn và không phải ai cũng có thể vượt qua được. Chỉ người chứng Tư Đà Hàm thì điều này còn mà như không, nhưng chưa hết hẳn. Cái sân mình nghe thường quá nhưng làm không nổi. Người chứng Tư Đà Hàm thì cái sân còn chứ chưa hết hẳn nhưng đừng hòng ta khơi lên nổi cái sân của họ. Ta có thể chọc giận chưởi mắng, ta có thể cướp hay làm họ bị thương tích, ta có thể đánh đau, hạ nhục, vu khống người đó, nhưng đừng hòng thấy họ nổi sân. Tuy nhiên trong gốc sâu vẫn chưa hết sân, vì gốc sâu bứng hết sân thì đã chứng quả thứ ba rồi. Còn quả thứ tư là đã được điềm đạm hư vô. Gốc tham, gốc sân chưa hết nhưng đừng hòng ta thấy cái tham, cái sân của người đó vì nó mỏng nhạt quá. Đó là bậc chứng Tư Đà Hàm.

Còn bậc chứng A Na Hàm (Thánh quả thứ ba) thì họ bứng sạch tham sân, người này đạo đức dường như tuyệt đối và thế gian này không ràng buộc được nữa. Cõi người này không ràng buộc được người đã chứng A Na Hàm và chính vì cái tâm họ không còn tham sân nên cái duyên với cõi người cắt mất. Phật gọi người này là bất lai, không trở lại cõi người nữa. Người Tư Đà Hàm vẫn còn chút ít tham sân nên còn trở lại một lần, gọi là nhất lai. Còn người Tu Đà Hoàn có một số Luận bản thì nói 7 lần nhưng trong Kinh Phật gốc thì không nói mấy lần cả. Có thể vài chục lần trở lại cõi này nhưng đến khi nào chứng được Tư Đà Hàm thì chỉ còn phải trở lại một lần.

Vị Thánh A Na Hàm bứng sạch hết tham sân và thần thông thì có người nhiều người ít tùy mức Thiền. Vị A Na Hàm giao động trong mức Thiền từ Sơ thiền cho tới Tam thiền, nếu người chứng Sơ thiền thì có một số thần thông sơ sơ. Còn nếu chứng tới Tam thiền thì có thể đi mây về gió.

Riêng quả Thánh A La Hán, ngoài Phật thì không ai có thể biết được cái chổ mà mức độ tinh tế như thế đó, Phật nói “ Người A Na Hàm dứt hết tham sân nhưng còn 5 kiết sử cuối cùng”, đó là: Thứ nhất vị đó còn bị sắc ái, tức là yêu quý cõi trời sắc giới. Khi các Ngài sinh lên đó rồi thì do cõi trời vi diệu quá nên tâm các Ngài có luyến ái bí mật. Ở trên cõi đó vi diệu quá, muốn gì có nấy, thân hình cao lớn, tất cả khí hậu ôn hòa thuận lợi, mọi ý muốn đều tự tại như ý. Cho nên một vị chứng A Na Hàm lên cõi đó rồi thì tâm các Ngài có ái luyến cõi trời Sắc giới đó.  Mà ái nó nhẹ và sâu đến nổi các Ngài không tự thấy. Đây là cái dở thứ nhất của các Ngài gọi là kiết sử còn lại.

Cái thứ hai là Vô sác ái. Có trường hợp những vị A Na Hàm không ở cõi trời Sắc giới mà nhập vào cõi trời Vô sắc, nơi đây không còn hình hài, tan hòa hết trong vũ trụ và cõi đó vi diệu vô cùng. Các Ngài có chút ái luyến của cái cõi đó, chính các ngài không biết, và Phật thấy được các vị ở trong cõi đó vẫn còn cái tâm ái cõi đó, gọi là Vô sắc ái. Cái dở thứ ba của một vị A Na Hàm là còn giải đãi lười biếng. Tu chứng Thánh tới đó rồi mà còn giải đãi không hay (Không hay mới gọi là kiết sử), chỉ có Phật mới nhìn ra thôi. Vì quả vị A Na Hàm đem đến sự an lạc lớn quá, nên các vị không cần phấn đấu nữa. Khi ta được một điều gì quá lớn rồi, bỗng nhiên cái chí hướng phấn đấu của ta mất, giống như một người sinh trong gia đình giàu có thường là người kém ý chí, kém nghị lực. Nhược điểm thứ tư của một vị A Na Hàm là còn kiêu mạn, vẫn còn thấy mình hơn người khác. Nếu gặp một vị A Na Hàm, ta thấy vị đó như hư vô, không còn gì nữa, vậy mà vẫn còn chút xíu thấy mình hơn chúng sinh và bị Phật nhìn ra liền. Và Phật chê đó là còn kiêu mạn. Đây là kiết sử thứ 4 còn sót lại của vị A Na Hàm. Lại nữa, kiết sử cuối cùng của vị A Na Hàm tất nhiên phải bị đó là vô minh. Hai chữ vô minh này không ai đủ sức hiểu, đủ sức diễn tả, trừ người chứng A La Hán rồi mới biết “Mình vừa thoát vô minh”. Còn tất cả chúng ta chưa chứng A La Hán thì không ai hiểu chữ vô minh là gì.

Vô minh là cái gì làm thành chấp ngã, vô minh sâu hơn chấp ngã nhưng ta không hiểu. Đó là những tính chất của Thánh. Còn tính chất của Thiền thì cao siêu thần thông tự tại nhưng có thể thoái thất nếu chứng Thiền mà chưa chứng Thánh. Trong khi chứng Thánh bắt buộc phải chứng Thiền. Mà mức thiền thì tương ưng từng quả Thánh. Tu Đà Hoàn thì chỉ cần chứng được Chánh niệm tỉnh giác ban đầu sơ sài. Tư Đà Hàm thì yêu cầu bắt buộc phải chứng Chánh niệm tỉnh giác ở đoạn cuối (Chưa vào được Sơ thiền). Còn A Na Hàm thì buộc phải chứng từ Sơ thiền trở lên tới Tam thiền. Và A La Hán bắt buộc phải chứng Tứ thiền.

Tóm lại, chứng Thánh thì buộc phải chứng Thiền tương ưng, còn chứng Thiền thì chưa chắc chứng Thánh, ta nhớ điều này cho kỹ. Trong kiếp này nếu ta tu đúng, tu tinh tấn thì hy vọng trước khi chết chứng được Tu Đà Hoàn, để đừng đọa vào ác đạo là mừng lắm rồi, đừng hy vọng chứng A Na Hàm.

Người chứng Thiền thì thích nói về thiền, về sự tiêu diêu tự tại. Còn ta gặp người nào mà nghe họ nói về đạo đức cuộc sống sâu xa, ta biết người này chứng Thánh, nhưng cả hai đòi hỏi phước rất lớn và nhân đây Thượng tọa gợi ý chúng ta nên gieo phước gì để chứng Thánh và gieo phước gì thì chứng Thiền. Có 2 điều đặc biệt của người gieo nhân chứng Thánh, đó là phải tôn kính Phật tuyệt đối và mơ hồ hình dung hướng về vô ngã. Ta chưa chứng vô ngã, nhưng với người để gieo nhân chứng Thánh phải suy nghiệm về vô ngã, biết rằng mình đang chấp ngã và mơ ước về một ngày cái chấp ngã này tan biến, không còn bản ngã nữa.

Trước khi kết thúc bài Pháp thoại, Thượng tọa đánh giá việc dạy và học Thiền thời nay. Và nhắc nhở mọi người đừng nhầm lẫn giữa chứng Thiền và chứng Thánh, đồng thời coi chừng hệ quả điên loạn bất ngờ của người tu Thiền. Điều cuối cùng Thượng tọa muốn truyền đạt là thế giới này, nhân loại này cần rất nhiều bậc Thánh. Con người ta sống trong mờ mịt, trong tăm tối, hể dựa được vào đâu, bám được vào đâu thì bám mà không có được những tấm gương sáng sống động giữa đời để noi theo. Nếu trong cuộc đời này ta may mắn gặp được những bậc Thánh thì ta có chổ nương tựa, có đường đi, có ánh sáng. Và nếu thế giới này rất nhiều bậc Thánh thì thế giới sẽ bớt hỗn loạn, bớt đảo điên, bớt đau khổ, bớt chiến tranh tang tốc. Vì vậy mỗi người chúng ta đều có bổn phận phải tu làm sao để chứng Thánh. Chứng Thánh không phải đi tìm vinh quang cho mình mà để cho thế giới bớt tối tăm, bớt đau khổ, vì ta yêu thương thế giới này./.
Theo phattuvietnam.net

Sóc con

Ý kiến của bạn

 
 Thay hình khác
  
Off Telex VNI VIQR
 
Các tin đã đưa ngày:
Lien he quang cao