Thứ ba,4/19/2011,11:43 AM

Động cơ luân hồi theo luật nhân quả qua 6 cõi

A. MỞ ĐỀ:

  Có người tin chết rồi mất hẳn, có người tin chết rồi linh hồn vẫn tồn tại mãi mãi. Theo đạo Phật thì không mất hẳn, cũng không còn mãi mà là luân hồi.
B. CHÁNH ĐỀ: 
              I. Định nghĩa luân hồi.
             II.  Sự luân hồi trong mọi sự vật và người:

1. Đất luân hồi

2. Nước luân hồi

3. Gió luân hồi

4. Lửa luân hồi

5. Cảnh giới luân hồi

6. Thân người luân hồi

7. Tinh thần luân hồi
III. Động cơ luân hồi theo luật nhân quả qua sáu cõi:

1. Cõi trời

2. Cõi người

3. Cõi Atula

4. Cõi Địa ngục

5. Cõi Ngạ quỷ

6. Cõi Súc sanh

IV. Giá trị của thuyết luân hồi.

           C. KẾT LUẬN:

 Nên cố gắng tu hành để chấm dứt sự luân hồi, khỏi trôi lăn trong sáu cõi và đạt quả vị giác ngộ giải thoát.

 


PHẦN NỘI DUNG

A. MỞ ĐỀ:

Vấn đề mất còn, sống chết là vô cùng quan trọng, từ xưa đến nay đã làm băn khoăn, thắc mắc không biết bao nhiêu lớp người, đã làm hao tổn không biết bao nhiêu giấy mực. Tựu trung, có hai thuyết làm cho người ta chú ý nhiều nhất. Một thuyết cho rằng loài người cũng như loài vật, một lần chết là mất hẳn, không còn gì tồn tại sau đó nữa: “Cát bụi, con người trở về với cát bụi”. Một thuyết chủ trương trái lại: Loài người chết đi nhưng linh hồn vẫn vĩnh viễn còn lại, để lên thiên đàng, thọ hưởng sự khoái lạc, an vui hay xuống địa ngục chịu cực hình mãi mãi.

 Hai thuyết chấp đoạn và chấp thường trên đều không đúng. Theo giáo lý đạo Phật thì chúng sanh không phải đoạn diệt mà cũng không phải thường còn mà là quay lộn trong cảnh sanh tử luân hồi. Do con người mê mờ không thấy rõ thật pháp vô ngã pháp mà sanh ra chấp thủ ngã pháp và tham ái. Do chấp thủ, tham ái mà tạo ra các nghiệp thiện, ác khiến đi vào sanh tử, không thấy lối ra. Lối đi vào sinh tử của chúng sanh trải qua thời gian không kể xiết vẽ thành vòng luân hồi quay mãi. Như lời Thế Tôn dạy được ghi rõ ở bài kệ Pháp Cú số 60.

                        “Đêm dài đối với kẻ thức

                         Đường dài đối với kẻ mệt

                          Luân hồi dài đối với kẻ ngu

                         Không biết rõ chơn diệu pháp”

Vâng! Lý luân hồi là một cơ cấu hệ trọng trong Phật pháp bao gồm cả nhơn quả, nghiệp báo là căn bản đạo đức của người tu Phật, không thông lý luân hồi, người Phật tử khó bề tu tiến được. Do đó, chúng ta cần phải tìn hiểu thấu đáo.

B. CHÁNH ĐỀ:

I. Định Nghĩa:

Luân là bánh xe; Hồi là xoay tròn. Luân hồi là xoay vần trong khuôn khổ cố định. Mọi sự đổi thay, biến chuyển không đứng yên ở một vị trí nào. Hằng xê dịch, biến thiên từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ hình tướng này sang hình tướng khác. Tất cả sự biến thiên đều tùy duyên thăng trầm không nhất định gọi là Luân Hồi.

Hình ảnh bánh xe xoay tròn là một hình ảnh rất rõ ràng mà Phật đã dùng để hình dung sự xoay chuyển, lên xuống, xuất hiện của mỗi chúng sanh trong sáu cõi. Khi đầu thai ở cõi nầy, khi ở cõi khác, luôn tiếp nối tử sanh, sanh tử không ngừng như bánh xe lăn. Cho nên Luân Hồi là một thuyết có thể chứng nghiệm được chứ không phải hoang đường. Khi chúng ta đã công nhận luật nhân quả, thì cũng không thể từ chối, không công nhận sự luân hồi, vì luân hồi chẳng qua là nhân quả liên tục, nhưng vì nó khi biến, khi hiện, khi lên, khi xuống; khi mất, khi còn, khi thay đổi hình dạng nên chúng ta tưởng như gián đoạn và không ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau đó thôi.

II. Sự luân hồi trong mọi sự vật và người:

Trong vũ trụ, tất cả sự vật, từ vật nhỏ như hạt bụi, đến lớn như quả địa cầu, không vật nào chẳng luân hồi.

1. Đất luân hồi:

Thâu nhận tế bào mới, đào thải tế bào cũ, thay đổi không lúc nào dừng, ấy là luân hồi. Như cái bình bông trước mặt chúng ta đây, trước kia nó là đất, người thợ đất đem nó nhồi nắn, làm thành cái bình, trải qua một thời gian, cái bình sẽ bị bể nát, tan thành cát bụi và trở về trạng thái đất cát. Đất cát này làm phân bón cho cây cỏ, cây cỏ lại làm thực phẩm cho động vật. Thân thể của các động vật khi chết rồi lại trở thành đất bụi. Bao nhiêu lần thay hình đổi dạng, vì nhân duyên này hay nhân duyên khác, những đất cát nó cũng lại trở thành đất cát sau một thời gian, một vòng luân chuyển dài hay ngắn.

2. Nước luân hồi:

Như nước ở biển, bị sức nóng mặt trời bốc thành hơi, hơi bay lên không tụ lại thành mây. Mây gặp gió lạnh, kết lại rơi xuống thành mưa. Nước mưa chảy xuống ao hồ, gặp khí lạnh quá biến thành băng giá. Băng giá gặp hơi nóng mặt trời tan ra thành nước. Hiện tượng của nước thì biến đổi vô cùng, bản thể của nước thì không bao giờ mất, nó chỉ luân hồi mà thôi. 

3. Gió luân hồi:

Hít không khí vô, thở không khí ra, hít vô thở ra cả đời như vậy là luân hồi. Nếu thở không khí ra mà không hít lại liền ngưng họat động, đó là thân chết.

4. Lửa luân hồi:

Như lửa là sức nóng làm cháy được vật, khi đủ nhân duyên nó sẽ phát ra. Chẳng hạn như hai thanh gỗ khô, khi cọ xát nhau một hồi thì phát ra lửa. Lửa này có thể đốt củi, củi bị đốt một phần hóa ra tro than, một phần biến thành thán khí, các thứ cây khác dùng rễ mình hút lấy phân tro, dùng lá mình thu hút thán khí, chất chứa lại sức nóng để ngày kia gặp đủ nhân duyên lại bừng cháy lên. Như thế thì sức nóng bao giờ cũng có sẵn, nhưng khi thì nó ở trạng thái tiềm phục, khi thì ở trạng thái phát hiện. Mắt chúng ta chỉ thấy khi nó phát hiện, và chỉ khi ấy mới cho là nó có, còn khi nó ở trạng thái tiềm phục thì bảo là nó không có. Thật ra nó chỉ luân hồi qua những trạng thái khác nhau, chứ không phải dứt đoạn hay mất hẳn.

5. Cảnh giới luân hồi:

Trong kinh Phật thường nói: “Thế giới nhiều như cát sông Hằng”. Thật thế, ban đêm chúng ta nhìn lên trời, thấy hằng hà sa số tinh tú. Mỗi tinh tú là một thế giới. Và mỗi thế giới đều không thoát ra ngoài định luật chung là Thành, trụ, hoại, không. Mỗi phút giây nào cũng có sự sanh diệt của thế giới. Thế giới này tan đi thì thế giới khác nhóm lên, như một làn sóng này mất đi thì làn sóng khác nổi lên, làm nhân quả, tiếp nối cho nhau, luân hồi không bao giờ dứt.

6. Thân người luân hồi:

Thân người hay thân thú vật cũng thế, xét cho cùng thì cũng do tứ đại mà có là đất, nước, gió, lửa. Những chất cứng, dẻo như da thịt, gân xương là thuộc về đất; những chất đượm ướt như máu, mở, mồ hôi, nước mắt là thuộc về Nước; hơi thở ra vào, trái tim nhảy, phổi hô hấp, tay chân cử động là thuộc về Gió; hơi nóng trong người thuộc về Lửa. Như trên chúng ta đã thấy tứ đại đều luân hồi. Mà thân người do tứ đại mà có nên cũng phải luân hồi theo. Khi thân này chết và đến lúc tan rã thì chất cứng dẻo trả về cho Đất; chất đượm ướt trả về cho Nước; hơi nóng trả về cho Lửa; hơi thở và sự cử động trả về cho Gió. Rồi bốn chất này tùy theo duyên chung mà hợp lại, làm thành thân người khác. Người khác đến khi chết rồi, bốn chất đó trở về bản thể cũ của chúng. Như thế cứ mãi tuần hoàn.              

 “Đời là mộng sao ta còn mê mãi

Tấm thân này do tứ đại hóa duyên

Đưa ta vào trong biển khổ triền miên

Mà cứ tưởng sống trong đường hạnh phúc”

7.  Tinh Thần Luân Hồi:

Con người không phải chỉ gồm có tứ đại, ngoài tứ đại còn có phần tâm lý nữa, hay nói tổng quát là tinh thần. Đó là những thứ mà đạo Phật gọi là: thọ, tưởng, hành, thức. Phần thể xác gồm tứ đại gọi là sắc. Sắc đã không tiêu diệt mà chỉ biến hóa luân hồi, thì tâm hay tinh thần cũng không tiêu diệt mà chỉ biến chuyển xoay vòng mà thôi.

Như phần tinh thần của ta luôn thay đổi bất thường, những thứ vui, buồn, yêu, ghét, lành, dữ, phải, quấy… thường hay thay mặt đổi mày như trên sân khấu. Có khi ta hiền lành như ông Bụt, có lúc giận dữ như cọp đói, nhiều lúc vui vẻ, yêu thương, lắm khi bực bội, thù địch… Những tâm trạng thăng giáng nơi nội tâm gọi là luân hồi. Như trong kinh đã nói: Tất cả những hành động của thân tâm tạo thành cho mỗi chúng ta một cái nghiệp. Cái nghiệp ấy biến dịch, xoay vòng mãi trong lục đạo, mãi cho đến ngày nào được giác ngộ mới thôi.

Nhưng sự lên xuống, xoay vòng của nghiệp trong 3 cõi 6 đường ấy không phải tình cờ, ngẫu nhiên, may rủi mà nó theo một định luật chung đó là luật Nhân - Quả.

III. Động cơ luân hồi theo luật nhân quả qua 6 cõi:

Chúng ta biết rằng nghiệp là hành động từ thân, khẩu, ý con người tạo thành, khi thành nghiệp rồi nó thúc đẩy, dẫn dắt con người đến chỗ thành quả của nó. Chính nó là động cơ chủ yếu ở mãi trong vòng luân hồi. Nếu thân, khẩu, ý tạo nhân tốt đẹp thì luân hồi đến cảnh giàu sang, thân đẹp đẽ. Còn tạo ra tội ác thì luân hồi đến cảnh giới nghèo hèn, thân xấu xí, tàn tật. Sự luân hồi đó không ngoài 6 cõi;

            1. Địa ngục: Tạo nhân sân hận, độc ác làm nhiều tội lỗi vừa hại mình vừa hại người phải luân hồi vào địa ngục, chịu đủ điều khổ sở.

            2. Ngạ quỷ: Nhân tạo tham lam, bỏn sẻn, không biết bố thí, giúp đỡ người từ tiền của đến giáo pháp. Trái lại còn mưu sâu, kế độc để cướp đoạt của người, sau khi chết luân hồi làm ngạ quỷ.

            3. Súc sanh: Tạo nhân si mê, sa đoạ theo thất tình, lục dục, tửu sắc, tài khí, không xét hay, dở, tốt, xấu, chết rồi luân hồi làm súc sanh.

            4. ATuLa: Gặp việc nhân nghĩa thì làm, gặp việc sai quấy cũng không tránh, vừa cang trực mà cũng vừa độc ác. Mặc dù có làm những điều phước thiện nhưng tánh tình hung hăng, nóng nãy vẫn còn, lại thêm tà kiến, si mê. Tạo nhân như vậy kết quả sẽ luân hồi làm A tu la, gặp vui sướng cũng có mà buồn khổ cũng nhiều.

            5. Loài người: Tu nhân ngủ giới thì đời sau trở lại làm người cao quý hơn muôn vật.

            6. Cõi trời: Bỏ 10 điều ác về thân, khẩu và ý mà tu nhân thập thiện thì sau khi chết được sanh lên cõi trời. Nhưng nên nhớ cõi trời này cũng trong vòng phàm tục, chịu cảnh sanh tử luân hồi.

            Nhìn chung ta thấy, trong lục đạo luân hồi ấy không phải hóa công đày đọa mà chính chúng ta tự tạo ra rồi tự thọ. Khi đã thành nghiệp chúng ta khó cưỡng được nó. Khả năng bệnh ghiền giống hệt khả năng nghiệp chi phối chúng ta trong lục đạo luân hồi. Nhưng kết quả tốt hay xấu ở hiện tại hoặc mai sau đều nằm trong tay chúng ta. Ta có quyền phán quyết một bản án tốt xấu trong đời sống mai sau của mình. Đừng cầu khẩn van xin bất cứ một ai. Nghiệp và chúng ta không phải là hai; khổ, vui sẽ tùy nghiệp mang đến với chúng ta một cách chân thành.

            Thế nhưng, bản hoài ra đời của Như Lai là đưa chúng sanh thoát khỏi nỗi khổ sanh tử, chứng quả giải thoát Niết bàn. Nên trọng tâm thuyết luân hồi Phật nói ra không phải để mãi chịu luân hồi mà biết luân hồi tường tận, rồi Phật chỉ ra con đường thoát ly luân hồi. Muốn thoát nỗi khổ luân hồi này, người tu Phật phải đi trên con đường vô ngã. Nếu dứt trừ ngã chấp hành giả sẽ trở về tánh bản chân thanh tịnh. Nhưng muốn diệt ngã phải thâm nhập Chơn Diệu Pháp, đó là duyên khởi. Đức Phật đã nói trong kinh Trường bộ III, trang 56: “Này ANan, chính vì không giác ngộ, không thấu hiểu giáo pháp Duyên khởi này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một ổ kén, rối ren như một ống chỉ… không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đoạ xứ, sanh tử”.

Như thế nói đến luân hồi chính là nói đến vòng quay của 12 nhân duyên trải qua 3 đời quá khứ, hiện tại và tương lai. Cho đến khi nào 12 nhân duyên đoạn diệt thì vòng quay của luân hồi mới chấm dứt. Nói cụ thể hơn, cho đến khi nào vô minh hết, tham ái hết hay chấp thủ không còn, đến khi ấy chúng ta mới đi ra khỏi vòng quay của luân hồi. Nhưng cho đến khi nào vô minh, tham ái, chấp thủ còn thì vòng luân hồi tiếp tục quay vô cùng tận. Thế mới nói:

            “Nhân vô minh vọng tình nhiễm trước

            Thọ, tưởng, hành nối tiếp nghiệp duyên

            Luân hồi sanh tử triền miên

            Ra vào ba cõi xuống lên sáu đường”

            Vâng! chúng ta có thể hình dung con đường luân hồi như những đường rầy xe lửa nhiều chiều chạy qua lại, lên xuống, vòng quanh từ các cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cho đến người, A tu la, trời, mà nghiệp lực hay nghiệp thức của chúng sanh thì như những con tàu và nhiên liệu, động cơ quay chuyển con tàu chính là tham ái, chấp thủ. Tùy theo nghiệp lực của chúng tạo ra trong đời sống hiện tại, con tàu sanh tử của chúng ta sẽ chuyển bánh. Sau khi chết đi từ ga này đến ga tiếp theo tương ứng với nghiệp ấy.

Nếu ngay trong đời sống hiện tại, tất cả nhiên liệu tham ái và chấp thủ đã được công phu tu tập của ta đốt cháy sạch thì con tàu sanh tử của ta sẽ thôi không còn chuyển bánh. Điều này không có nghĩa là con vẫn ở lại ga đời này, mà có nghĩa là tất cả nhà ga sanh tử không còn liên hệ gì đến con người giải thoát nữa. Ở đây sanh tử chính là tham ái, chấp thủ, cũng chính là sự quay chuyển của con tàu và các nhà ga. Cái gọi là luân hồi thật ra đấy chính là sự quay chuyển của vô minh. Khi vô minh được đoạn tận thì tất cả con tàu, đường sắt và các nhà ga đều được đốt cháy sạch. Tất cả những thứ ấy bị đốt sạch, nhưng không vì thế mà trở thành rỗng không mà là để lộ thực tại toàn bích, giải thoát không còn lại một dấu vết nào của sanh tử. Bấy giờ con người giải thoát, hay thật ngã chính thực là hiện tại.

            “Trúc biếc xanh xanh không đâu không là chân bát nhã

Hoa vàng rực rỡ hết thảy đều là Lý Chân Như”

            Cho nên, hiểu luân hồi chính là nội dung của hiểu biết nhân quả, nghiệp báo, tứ đế hay duyên khởi. Bởi luân hồi cũng hư mọi pháp khác, nó là do duyên sanh nên vô ngã. Không thể có một pháp như thực gọi là luân hồi, mà chỉ có thể nói tự thân của luân hồi cũng chính là như thực khi vô minh không còn ngăn che nữa. Nếu luân hồi có tự ngã thì sẽ không bao giờ có sự kiện giải thoát luân hồi thì có thực nên luân hồi phải là không tự ngã. Thế nên rốt ráo mà nói luân hồi chỉ có mặt ở vô minh mà không có mặt trong thực tại như thực. Nó mà có cũng như không có. Chúng ta đừng hoài công đi tìm thực chất của luân hồi, bởi vì theo triết lý Phật dạy: Tất cả cái gì thuộc pháp hữu vi, thuộc sanh tử luân hồi đều là hư vọng không có gốc:

            “Ba cõi lầm mê tâm tịch tịnh

            Một đời sanh tử tánh thường như

            Sớm mai thấy nụ hoa hồng nở

            Nhẹ gót trần sa mộng tỉnh rồi”

IV. Giá trị của thuyết luân hồi: Giáo lý luân hồi đem lại cho chúng ta nhiều điều lợi ích:

            - Nó phá “đoạn kiến” sai lầm, đã làm cho con người đâm ra chán nản, vì nghĩ rằng dù mình có cố gắng ăn ở cho có đạo đức, làm các điều hay, đẹp rồi cuối cùng cũng chẳng đem theo được thứ gì, chẳng được hưởng gì cả một khi thân thể đã tiêu tan. Như thế càng làm cho con người lún sâu vào tội lỗi.

- Nó phá “thường kiến” sai lầm, làm cho con người tin rằng, loài người chết rồi vẫn giữ địa vị của mình, dù có làm phúc hay tội cũng vậy. Do đó người ta cũng không cần cố gắng trong lúc sanh tiền.

- Với giáo lý luân hồi, chúng ta phấn khởi mà tin rằng: chết rồi không phải mất hẳn, nhưng nếu chúng ta không biết vun trồng cội phúc, không cố gắng sống một đời sống có đạo đức mà trái lại làm những điều xấu xa, tội lỗi thì đời sau chúng ta sẽ sanh vào cảnh giới xấu xa, đen tối.

“Bể ái chưa vơi dòng nước mắt

  Đường sanh tử gieo rắc tang thương

 Luân hồi ba cõi vấn vương

Nguyên nhân nghiệp hoặc là đường khổ đau”

 

C. KẾT LUẬN:

            Đạo Phật nói lý luân hồi cũng phát minh một sự thật của vạn vật và con người. Để cho con người nhận chân được lý luân hồi, khiến tăng thêm lòng tự tin nơi con người, không còn mê tín, ỷ lại. Do biết ta là người quyết định thân phận của mình, nên tất cả oán hờn, tủi hận đều sạch hết, chỉ biết lấy tình thương xoá bỏ hận thù, vì đã hiểu được:

“Lấy oán thù đáp oán thù

 Oán thù không dứt niềm từ lại tiêu

 Lấy tình yêu gọi tình yêu

 Sóng đưa một gợn thủy triều liền dâng”

            Vâng! đâu có ai áp đặt sự đau khổ cho mình đâu mà than thở. Chúng ta là con người độc lập, tự do của chính mình trong hiện tại vị lai. Dù chưa giải thoát, biết được lý luân hồi chúng ta cũng sáng suốt và an ổn ngay trong đời sống này. Mọi tương lai đều nằm trong tay chúng ta, chúng ta đuợc quyền chọn lấy một tương lai nào theo sở thích của mình. Phải luôn tỉnh thức để biết rằng tâm tham, sân, si là ba thứ độc hại luôn gây đau khổ cho mình và người không lường trước được. Người nào kềm cương giữ thắng được bảo đảm được một đời sống an lành, cũng bảo vệ được an ninh trật tự xã hội cho mọi người xung quanh. Ngược lại người nào buông cương thả thắng, nó sẽ lôi đời mình vào hố sâu nguy hiểm, cũng gây họa cho khách bàng quan không ít. Thế nên, chúng ta hãy luôn thức tỉnh, nghiệm sâu lý luân hồi để rồi thoát ly luân hồi

            “Người xưa đại nguyện quyết xuất trần

            Người nay nối gót quyết tròn nhân

            Đem lại đạo vàng soi muôn nẻo

            Chẳng uổng hôm nay có trong trần”

 

PHẦN CÂU HỎI

 

1. Có người hỏi rằng: Người và thú vật hoàn toàn khác nhau, làm sao người có thể

tái sanh thành thú vật & thú vật thành người được?

            Người ta thường quan niệm sai lầm rằng, người có linh hồn người, thú vật có linh hồn thú vật. Linh hồn người hay thú vật bất biến dù chết hay sống. Thực ra nghiệp không phải là linh hồn mà là một năng lực có tính chất những hành động của mỗi chúng sanh. Vì tính chất riêng biệt ấy mà nghiệp lực nhập vào một hình thức này hay hình thức khác, do cái luật hấp dẫn: đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.

Thế nên thay vì nói người kia trở thành thú hay trái lại thú kia trở thành người, đúng hơn nên nói: “Nghiệp lực phát hiện dưới hình thể người hay dưới hình thể thú”.

2. Như trong bài có đề cập: con người nếu tu nhân thập thiện thì được sanh cõi trời vậy thập thiện là gì?

 

Thập thiện là 10 điều lành, chi phối trong thân, khẩu, ý.

- Thân: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm.

- Khẩu: Không nói vọng ngữ, nói lời thêu dệt, nói lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác.

- Ý: không tham, sân, si.

3. Nguyên nhân nào dẫn đến luân hồi trong 3 cõi 6 đường?

            Nguyên nhân luân hồi thì vô cùng, từ thân, khẩu, ý mà tạo nên. Nhưng tựu chung nguyên nhân chính là do vô minh, tham ái, chấp thủ nên không thể giải thoát luân hồi

4. Muốn thoát luân hồi nên tu tập theo pháp nào?

            Phật dạy muốn thoát luân hồi nên đi trên con đường vô ngã bằng pháp quán 12 nhân duyên, đến khi nào 12 nhân duyên đoạn diệt mà cụ thể là vô minh hết, tham ái hết, chấp thủ hết, ta mới ra khỏi vòng luân hồi.

5. Vì sao sanh lên cõi trời được hưởng sung sướng mà còn gọi là bị luân hồi?

            Vì người sanh lên cõi trời chưa hoàn toàn giác ngộ, vẫn còn ngã chấp, tức là phiền não chưa đoạn tận. Nên sau khi hưởng hết phước Thiên giới thì vẫn bị luân hồi cõi khác. Cho nên Thiên giới vẫn còn nằm trong lục đạo luân hồi. 

Soc con

Ý kiến của bạn

 
 Thay hình khác
  
Off Telex VNI VIQR
 
Các tin đã đưa ngày:
Lien he quang cao